5044307
YgpcDG5GduIhcb7kgQ8EwFQNstJ0mGDld170JSBJPRRJdktKlnaontXdF8/ItVbx
KỶ NIỆM 71 NĂM NGÀY THÀNH LẬP QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM (22/12/1944 - 22/12/2015) VÀ 26 NĂM NGÀY HỘI QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN (22/12/1989 - 22/12/2015)
Tin hoạt động phong trào
0

KỶ NIỆM 71 NĂM NGÀY THÀNH LẬP QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM (22/12/1944 - 22/12/2015) VÀ 26 NĂM NGÀY HỘI QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN (22/12/1989 - 22/12/2015)

(Bài tuyên truyền trong giờ chào cờ ngày 21/12/2015) Lưu Công Lương – Bí thư Đoàn trường

Ngày 22-12-1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam được thành lập, đánh dấu sự ra đời của một tổ chức quân sự mới của dân tộc ta. Một quân đội của dân, do dân, vì dân và luôn gắn bó máu thịt với dân, luôn luôn được dân tin yêu, đùm bọc.

Đầu năm 1941, Chủ tịch Hồ Chí Minh về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Tháng 5/1941, Người chủ tọa Hội nghị Trung ương lần thứ 8 tại Pác Bó. Hội nghị quyết định thành lập mặt trận dân tộc thống nhất lấy tên là “Việt Nam độc lập Đồng minh hội”, gọi tắt là Việt Minh, xây dựng và phát triển các lực lượng vũ trang để chuẩn bị tranh thủ thời cơ, đi từ “khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương” để “mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn giành chính quyền trong cả nước”. Giữa năm 1944, tình hình thế giới có nhiều chuyển biến nhanh chóng, Hồng quân Liên Xô chuyển sang phản công thắng lợi trên nhiều mặt trận. Tháng 8/1944, Trung ương Đảng kêu gọi nhân dân “cầm vũ khí đuổi thù chung”, không khí chuẩn bị khởi nghĩa sục sôi khắp nơi trên cả nước. Cuối năm 1944, nhân dân vùng Cao - Bắc - Lạng sẵn sàng hưởng ứng khởi nghĩa. Tháng 10/1944, sau một thời gian ở nước ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh về nước chỉ thị hoãn cuộc khởi nghĩa Cao - Bắc - Lạng. Người nói: “Thời kỳ cách mạng hòa bình phát triển đã qua, nhưng thời kỳ toàn dân khởi nghĩa chưa tới… Cuộc đấu tranh bây giờ phải từ hình thức chính trị tiến lên hình thức quân sự. Song hiện nay, chính trị còn trọng hơn quân sự. Phải tìm ra một hình thức thích hợp thì mới có thể đẩy phong trào tiến lên”.

Để đáp ứng yêu cầu đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Trong chỉ thị ghi rõ: “Tên đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự, sẽ chọn lọc trong hàng ngũ các du kích Cao - Bắc - Lạng số cán bộ đội viên kiên quyết, hăng hái nhất và sẽ tập trung một phần lớn vũ khí để lập ra đội quân chủ lực…Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là đội quân đàn anh, mong cho chóng có những đội đàn em khác. Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang… nó có thể đi suốt từ Nam ra Bắc, khắp đất nước chúng ta…”. Chấp hành chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vào lúc 17 giờ, ngày 22/12/1944, trong khung cảnh hùng vĩ của núi rừng Việt Bắc, tại khu rừng giữa hai tổng Hoàng Hoa Thám và Trần Hưng Đạo thuộc Châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng ( huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng ngày nay), được sự ủy nhiệm của Trung ương Đảng và Bác Hồ, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã long trọng tuyên bố thành lập đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, ban đầu Đội gồm có 34 chiến sỹ  với 34 khẩu súng các loại do đồng chí Hoàng Sâm làm đội trưởng, đồng chí Xích Thắng (Tức Dương Mạc Thạch) làm Chính trị viên, đồng chí Hoàng Văn Thái phụ trách kế hoạch - tình báo. Dưới lá cờ đỏ sao vàng, toàn Đội đã tuyên đọc Mười Lời thề danh dự nói lên lòng trung thành với Tổ quốc, với Đảng và nhân dân, thể hiện tinh thần chiến đấu hy sinh vì sự nghiệp cách mạng, kiên quyết tiêu diệt kẻ thù, hết lòng phục vụ nhân dân của Quân đội cách mạng. Mười lời thề của Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã trở thành lời thề của Quân đội ta sau này. Sau lễ thành lập, toàn đội đã ăn một bữa cơm nhạt, không rau, không muối để tượng trưng cho tinh thần chịu đựng gian khổ của người chiến sĩ cách mạng. Tên gọi "Quân đội Nhân dân" là do Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt với ý nghĩa "từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, vì nhân dân phục vụ". Một tên khác được nhân dân yêu mến đặt cho là "bộ đội cụ Hồ".

Thực hiện chỉ thị “Trận đầu ra quân phải thắng”, ngay sau ngày thành lập, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã mưu trí, táo bạo, bất ngờ đột nhập vào đồn Phai Khắt (17 giờ chiều 25-12-1944) và sáng hôm sau (7 giờ ngày 26-12-1944) đột nhập đồn Nà Ngần, tiêu diệt gọn 2 đồn địch, giết chết 2 tên đồn trưởng, bắt sống toàn bộ binh lính, thu toàn bộ vũ khí, quân trang, quân dụng. Hai trận đánh đồn Phai Khắt, Nà Ngần thắng lợi đã mở đầu truyền thống đánh tiêu diệt, đánh chắc thắng và được phát huy suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cho đến ngày thắng lợi hoàn toàn.

Ngày 15 tháng 4 năm 1945, đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân sát nhập với lực lượng Cứu quốc quân do Chu Văn Tấn chỉ huy, đổi tên thành Giải phóng quân - lực lượng quân sự chính của Việt Minh để giành chính quyền năm 1945. Từ năm 1945, Giải phóng quân của Việt Minh là lực lượng nòng cốt quân đội quốc gia của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Để đối phó với sức ép của quân Tưởng Giới Thạch đòi giải tán quân đội chính quy Việt Minh, tháng 11 năm 1945 Việt Nam giải phóng quân đổi tên thành Vệ quốc đoàn, còn gọi là Vệ quốc quân. Ngày 22 tháng 5 năm 1946, theo Sắc lệnh 71/SL của Chủ tịch nước, Vệ quốc đoàn đổi tên thành Quân đội Quốc gia Việt Nam, được đặt dưới sự chỉ huy tập trung thống nhất của Bộ Tổng tham mưu. Từ năm 1950, Quân đội Quốc gia Việt Nam đổi tên thành Quân đội Nhân dân Việt Nam. 

Năm 1954, với thắng lợi của trận Điện Biên Phủ, đây là đội quân đầu tiên của một đất nước thuộc địa đánh bại một quân đội thực dân trong lịch sử thế giới của thế kỷ XX. Thiếu tá Bi-gia, đã có kinh nghiệm chiến trường chín năm liền ở Đông Dương, tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ từ lúc xây dựng cứ điểm đến khi đầu hàng, đã bày tỏ sự kính trọng của mình đối với Quân đội Nhân dân Việt Nam: "Tôi đã thấy họ khởi sự từ những khẩu súng bất kỳ như súng săn và sau đó, tháng này qua tháng khác, họ được tổ chức thành những nhóm nhỏ, rồi từ các nhóm nhỏ thành trung đội, từ các trung đội lên đại đội, từ đại đội lên tiểu đoàn và lữ đoàn và cuối cùng là thành các sư đoàn đủ quân. Tôi đã thấy tất cả những điều này và tôi có thể nói với các vị rằng họ đã trở thành những người lính bộ binh vĩ đại nhất trên thế giới. Những người lính dẻo dai này có thể đi bộ 50 km trong đêm tối bằng sức của một bát cơm, trên những đôi giày ba-ta và hát vang trên đường ra trận. Theo quan điểm của tôi, họ đã trở thành những người lính bộ binh ngoại hạng và họ đã đánh bại được chúng ta".

Ngày 15 tháng 2 năm 1961, tại Chiến khu Đ, Quân Giải phóng miền Nam, gọi tắt là Giải phóng quân, được thành lập trên cơ sở thống nhất các lực lượng vũ trang ở miền Nam Việt Nam. Thực chất, đây là lực lượng Vệ quốc đoàn còn ở lại Nam Việt Nam, kết hợp bộ phận tăng viện của Quân đội Nhân dân từ miền Bắc và lực lượng chiêu mộ tại chỗ, thành lực lượng quân sự của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.

Năm 1976, nước Việt Nam thống nhất. Quân đội Nhân dân Việt Nam và Quân Giải phóng miền Nam hợp nhất thành Quân đội Nhân dân Việt Nam. Với nguyện vọng của nhân dân cả nước, ngày 17/10/1989 Ban Bí thư Trung ương Đảng (Khóa VI) đã quyết định lấy ngày kỷ niệm thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam (22/12/1944), đồng thời là ngày Hội Quốc phòng toàn dân. Việc lấy ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam là ngày Hội Quốc phòng toàn dân là một sự kiện trọng đại, có ý nghĩa to lớn, đánh dấu bước phát triển mới của Lực lượng vũ trang nhân dân và cách mạng Việt Nam để toàn Đảng, toàn dân tích cực chăm lo xây dựng lực lượng và sự nghiệp Quốc phòng toàn dân.

Quân kỳ của Quân đội Nhân dân Việt Nam là lá Quốc kỳ của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam có thêm dòng chữ "Quyết thắng" màu vàng ở phía trên bên trái. Ngoài việc bảo vệ tổ quốc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã không ngừng nâng cao tinh thần yêu nước xã hội chủ nghĩa, tinh thần quốc tế vô sản, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, là đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ, sẵn sàng chiến đấu hy sinh “vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân”. 

Có thể nói, sự ra đời của Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân là một bước ngoặt trên con đường đấu tranh cách mạng giải phóng của dân tộc ta. Lịch sử 71 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành của quân đội ta gắn liền với lịch sử đấu tranh anh dũng của dân tộc. Một đội quân được Đảng và Bác Hồ rèn luyện, đã từng là những đội tự vệ đỏ trong cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, đội du kích Bắc Sơn, Nam Kỳ, Ba Tơ, Cao Bắc Lạng, Cứu quốc quân đến Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân. Một đội quân lớp lớp cán bộ, chiến sĩ đã nối tiếp nhau qua bao thế hệ cầm súng chiến đấu, cùng toàn dân đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược lớn mạnh, giành lại độc lập dân tộc và bảo vệ vững chắc bờ cõi thiêng liêng của Tổ quốc. Bên cạnh đó, quân đội ta còn làm tròn nghĩa vụ quốc tế vẻ vang đối với cách mạng hai nước bạn Lào và Cam-pu-chia.

Phát huy thành tích to lớn đã đạt được trong 71 năm qua, Quân đội nhân dân Việt Nam tiếp tục xây dựng theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Mặt khác, tham gia xây dựng kinh tế đất nước và xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, góp phần xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; bảo vệ hòa bình, ổn định, phát triển trong khu vực và trên thế giới, xứng đáng với tên gọi Quân Đội Nhân Dân Việt Nam. Với sự phát triển kinh tế trong thập niên đầu của thế kỷ 21, Việt Nam đang dần đầu tư mạnh và hiện đại hóa quân đội theo như chỉ đạo qua hai khóa Đại hội Đảng năm 2001-2006 và năm 2006-2011. Từ năm 2012 đến năm 2015, Việt Nam trở thành một trong 3 nước nhập khẩu vũ khí của Nga nhiều nhất. Là một thành viên của ASEAN, thực lực quân sự của Việt Nam được các nước trong ASEAN rất coi trọng.
Nhân kỷ niệm 71 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 - 22/12/2015) và 26 năm ngày Hội Quốc phòng toàn dân (22/12/1989 - 22/12/2015), chúng ta xin kính cẩn bày tỏ lòng tưởng nhớ đến vị lãnh tụ - Người Cha già của dân tộc Hồ Chí Minh vĩ đại, Người đã sáng lập và rèn luyện Quân đội ta đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất nước nhà. Tưởng nhớ đến Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Đại tướng Hoàng Văn Thái, Đại tướng Văn Tiến Dũng, Đại tướng Lê Trọng Tấn… những vị tướng tài ba, kiệt xuất của Quân đội nhân dân Việt Nam đã có nhiều cống hiến to lớn cho sự nghiệp đánh giặc và giữ nước của dân tộc ta. Chúng ta  bày tỏ lòng kính trọng và tri ân sâu sắc đến các anh hùng liệt sĩ, các Bà mẹ Việt Nam anh hùng và các đồng chí thương binh, bệnh binh, cựu chiến binh, thanh niên xung phong đã anh dũng chiến đấu, hi sinh, hiến trọn đời mình cho lý tưởng cách mạng của Đảng và của dân tộc để đem lại hòa bình, độc lập tự do cho Tổ quốc.

 
.
Tin mới nhất
Đọc nhiều nhất